Nói tới giao dịch an toàn thì thường nghĩ tới người mua. Nhưng người bán cũng có rủi ro riêng.
Nhất là khi bán hàng sống, giao đi xa, và không kiểm soát được cách khách chăm sóc.
Khách chăm sai rồi đổ lỗi cho tổ. Đây là rủi ro phổ biến nhất và cũng khó xử lý nhất.
Khách đặt cọc rồi đổi ý, trong khi mình đã giữ tổ và từ chối người khác.
Khách nhận hàng rồi không trả nốt tiền.
Hàng hỏng dọc đường khi thuê bên thứ ba chở.
Khách nói quá về vấn đề để đòi đổi tổ.
Phần lớn những rủi ro này đều giảm được bằng cách thoả thuận rõ và dặn dò kỹ.
| Rủi ro | Cách giảm | Mức hiệu quả |
|---|---|---|
| Bị đổ lỗi khi khách chăm sai | Dặn kỹ, ghi lại đã dặn gì | Cao |
| Khách đổi ý sau khi cọc | Thoả thuận rõ về cọc | Cao |
| Không trả nốt tiền | Thu đủ khi giao | Rất cao |
| Hàng hỏng dọc đường | Đóng gói đúng, chụp ảnh | Vừa |
| Khách nói quá vấn đề | Yêu cầu ảnh và mô tả cụ thể | Vừa |
| Bán cho khách chưa đủ điều kiện | Tư vấn thẳng, từ chối nếu cần | Cao |
Phần lớn sự cố ở nhà khách là do họ lo quá nên can thiệp nhiều.
Dặn trước ba việc cho tuần đầu, và nhắn lại bằng tin nhắn chứ không chỉ nói miệng.
Việc này vừa giúp khách giữ được đàn, vừa là bằng chứng nếu về sau có chuyện.
Nhiều trại còn viết sẵn một trang hướng dẫn và gửi cho mọi khách.
Làm một lần dùng nhiều năm, và cho khách thấy mình làm việc nghiêm túc.
Đây là chỗ nếu không nói rõ thì kỳ vọng hai bên khác nhau.
Nói rõ: bảo đảm đàn khoẻ tại thời điểm giao và trong khoảng ngắn sau đó, còn sau đó phụ thuộc cách chăm và điều kiện nơi nuôi.
Nói cả những trường hợp không thuộc phạm vi: chỗ đặt sai, không chống kiến, mở thùng nhiều.
Khách nghe xong thường thấy hợp lý, vì đó là cách nói công bằng cho cả hai.
Và khi có chuyện thì có căn cứ để trao đổi, thay vì cãi nhau về cảm tính.
Có trường hợp nên nói thẳng là chưa nên mua: khách ở vùng quá khác, quanh nhà không có nguồn hoa, hoặc kỳ vọng sai.
Bán cho họ thì vài tháng sau đàn hỏng, và mình mang tiếng dù đã bán tổ tốt.
Mất một đơn hàng nhẹ hơn nhiều so với việc có một khách thất vọng đi kể lại.
Ở Đầu Tư Ong Dú, việc tư vấn thẳng được xem là một phần của công việc chứ không phải chuyện làm mất khách.
Ghi lại mỗi giao dịch: bán tổ nào cho ai, ngày nào, đã dặn gì, khách phản hồi ra sao.
Không cần phức tạp, một dòng là đủ.
Việc này có ba cái lợi: có căn cứ khi có tranh chấp, biết được đàn mình bán ra sống thế nào, và xây được danh sách khách quen.
Sau vài năm thì cuốn sổ này cho biết nhiều điều: khách vùng nào hay gặp vấn đề, dòng nào bán ra hay hỏng.
Bị đổ lỗi khi đàn hỏng do cách chăm của khách.
Dặn dò kỹ bằng tin nhắn và nói rõ phạm vi bảo đảm từ đầu.
Có, khi khách rõ ràng chưa đủ điều kiện.
Cần thoả thuận rõ về cọc ngay từ đầu.
Nên, một dòng mỗi giao dịch là đủ.
Phần lớn tranh chấp bắt nguồn từ chỗ hai bên hiểu khác nhau. Năm điểm nên thống nhất bằng chữ trước khi bắt đầu giao dịch.
Đây là khâu dễ phát sinh tranh cãi nhất trong mua bán ong dú. Cách phân định trách nhiệm và những gì nên làm ở cả hai đầu.
Nên trả trước hay trả khi nhận, đặt cọc bao nhiêu là hợp lý, và cách tránh rủi ro cho cả phía người mua lẫn phía người bán.
Hàng là sinh vật sống nên rất khó phân định đúng sai. Cách xử lý sao cho vẫn giữ được quan hệ và những gì nên tránh làm.
Vài cách xác minh đơn giản mà không mất nhiều thời gian. Những gì kiểm chứng được và những gì thì không thể nào kiểm chứng.
Cả tổ ong lẫn mật đều dễ hỏng khi vận chuyển đi xa. Cách đóng gói cho chắc, chọn đơn vị giao và cách phân định trách nhiệm.
Tính toán khi nuôi ong dú ở quy mô có đầu tư: chi phí ban đầu, thời gian đàn ổn định, các rủi ro thật, cách tính toán thận trọng. Không hứa hẹn lợi nhuận, chỉ nêu biến số cần cân nhắc.