Mật ong dú có giá chênh nhau khá nhiều giữa các nơi, và người mua thường so không đúng cách.
Có mấy điểm phải cùng nhau thì so mới có nghĩa.
Dung tích: chai nhỏ luôn có giá đơn vị cao hơn vì chi phí chai và công đóng gói chia trên lượng ít hơn. So chai nhỏ với chai lớn thì luôn thấy chai nhỏ đắt.
Đợt thu: mật đợt chính thường được định giá cao hơn đợt phụ.
Vùng nuôi: mật vùng rừng và vùng cao thường cao hơn mật vùng vườn, do sản lượng thấp và đường đi lại khó.
Kênh bán: mua trực tiếp tại trại rẻ hơn mua qua cửa hàng.
Bỏ qua bốn điểm này thì mọi so sánh đều lệch.
| Yếu tố | Ảnh hưởng giá | Có đáng trả thêm không |
|---|---|---|
| Dung tích nhỏ | Giá đơn vị cao hơn | Bình thường, không phải bị hớ |
| Mật đợt chính | Cao hơn đợt phụ | Tuỳ gu |
| Vùng rừng, vùng cao | Cao hơn | Tuỳ gu, không phải chất lượng |
| Có ghi ngày thu và vùng | Cao hơn chút | Rất đáng |
| Bao bì làm quà | Cao hơn | Chỉ khi mua tặng |
| Qua cửa hàng | Cao hơn | Đổi lại là tiện |
Một tổ cho mật tính bằng lít mỗi năm, trong khi công chăm không kém nuôi ong mật.
Việc thu phải làm thủ công từng bọng, không quay ly tâm được.
Đàn chỉ kiếm ăn trong bán kính vài trăm mét nên phụ thuộc hoàn toàn nguồn hoa quanh nhà, năm được năm mất.
Cộng lại thì chi phí trên mỗi lít cao, và giá thấp bất thường nghĩa là có gì đó không khớp.
Đây là điều nên biết trước khi so giá với mật ong thường ngoài chợ.
Ngay sau đợt thu chính thì nhiều hàng, giá ổn định và có nhiều lựa chọn.
Càng về cuối mùa thì hàng khan dần, và giá thường nhích lên.
Vào quãng chưa tới đợt thu mới thì nhiều nơi hết hàng hẳn.
Biết nhịp này thì mua ngay sau đợt thu chính là hợp lý nhất: mật mới nhất, nhiều lựa chọn nhất, giá ổn định nhất.
Ở Đầu Tư Ong Dú, đợt thu chính vào cuối mùa mưa.
Với sản lượng thấp như mật ong dú thì mật thật rất khó rẻ.
Giá quá thấp thường do một trong mấy lý do: pha thêm, mật thu khi bọng còn non, hoặc không phải mật ong dú.
Cũng có trường hợp rẻ hợp lý: mua trực tiếp tại trại, không bao bì, hoặc người bán thanh lý đợt cũ.
Cách phân biệt vẫn là hỏi: thu ở đâu, tháng nào, có qua đun nóng không.
Người bán thật trả lời cụ thể ngay.
Định giá dựa trên chi phí thật: công chăm cả năm, công thu, lọc, đóng chai, và chi phí chai lọ.
Nếu bán chai nhỏ thì giá đơn vị cao hơn là hợp lý, và nên giải thích khi khách hỏi.
Giữ giá nhất quán cho mọi khách.
Và đừng cạnh tranh bằng giá với mật ong thường, vì đó là hai loại hàng khác nhau.
Cạnh tranh bằng nguồn gốc rõ ràng thì bền hơn nhiều.
Chi phí chai và công đóng gói chia trên lượng ít hơn.
Thường là vùng rừng và vùng cao, do sản lượng thấp và đi lại khó.
Ngay sau đợt thu chính, khi mật mới nhất và nhiều lựa chọn nhất.
Nên hỏi rõ nguồn gốc trước. Có trường hợp rẻ hợp lý.
Không. Đó là hai loại hàng khác nhau về sản lượng và cách thu.
Cùng gọi là một tổ mà mỗi nơi lại một giá khác nhau. Các yếu tố tạo ra chênh lệch và cách nhìn cho đúng khi đem chúng ra so.
Không phải cứ rẻ là dở, nhưng rẻ bất thường thì luôn có lý do nào đó. Cách phân biệt hai trường hợp trước khi quyết mua.
Đặt giá quá thấp thì mình thiệt, quá cao thì không ai mua. Cách tính dựa trên chi phí thật và giá trị mà mình mang lại cho khách.
Trả giá là chuyện bình thường nhưng có cách làm hợp lý và cách làm mất thiện cảm. Nhìn từ cả phía người mua lẫn người bán.
Ong dú có mùa rõ rệt nên giá cũng lên xuống theo nhịp. Biết được nhịp đó thì cả người mua lẫn người bán đều chủ động hơn hẳn.
Cùng một tổ ong nhưng mua ở hai nơi lại nhận được hai thứ khác nhau. Những giá trị đi kèm mà người mua thường hay bỏ qua khi so giá.
Tính toán khi nuôi ong dú ở quy mô có đầu tư: chi phí ban đầu, thời gian đàn ổn định, các rủi ro thật, cách tính toán thận trọng. Không hứa hẹn lợi nhuận, chỉ nêu biến số cần cân nhắc.