Khác với hàng công nghiệp, ong dú có mùa rõ rệt. Giá vì vậy cũng lên xuống theo nhịp khá đều đặn qua các năm.
Biết nhịp đó thì cả người mua lẫn người bán đều chủ động hơn.
Với tổ giống thì đầu tháng 5 đến tháng 11 là cao điểm: nhiều người muốn mua để đàn có mấy tháng hoa gây dựng. Giá thường nhích lên và hàng cũng khan hơn.
Giữa và cuối mùa mưa thì nhu cầu giảm dần.
Vào quãng cuối mùa khô thì ít người mua tổ, giá mềm hơn, nhưng đó cũng là lúc mua rủi ro nhất.
Với mật thì ngược lại: nhiều hàng ngay sau đợt thu chính, rồi khan dần cho tới mùa sau.
| Thời điểm | Giá tổ | Giá mật | Nên làm gì |
|---|---|---|---|
| Đầu tháng 5 đến tháng 11 | Nhích lên | Khan hàng | Mua tổ: nên đặt trước |
| Giữa tháng 5 đến tháng 11 | Ổn định | Khan | Thời điểm tách đàn |
| Sau đợt thu chính | Ổn định | Nhiều hàng | Mua mật: tốt nhất |
| Đầu tháng 12 đến tháng 4 | Mềm dần | Còn hàng | Mua mật vẫn tốt |
| quãng cuối mùa khô | Mềm nhất | Khan dần | Mua tổ: rủi ro cao |
Giá mềm hơn nên nhiều người thấy hời.
Nhưng đàn chuyển về chỗ mới đúng lúc ngoài kia không có gì để ăn thì vừa sốc vừa đói cùng lúc.
Phần chênh giá không bù nổi rủi ro mất đàn.
Nếu vẫn muốn mua lúc đó thì chọn tổ đã ổn định lâu năm, mua ít, và chuẩn bị chỗ đặt thật kỹ.
Còn nếu chờ được thì chờ tới đầu tháng 5 đến tháng 11.
Với người mua: đặt trước từ trước mùa thì chắc suất, không phải tranh với người khác lúc cao điểm, và nhận được tổ vào đúng thời điểm hợp lý.
Với người bán: biết trước lượng cần để sắp xếp việc tách đàn, không phải bán vội.
Cả hai bên đều lợi, nên nhiều trại khuyến khích cách này.
Chỉ cần thoả thuận rõ: cọc bao nhiêu, giao khi nào, nếu không giao được thì xử lý ra sao.
Cao điểm thì nhu cầu tăng, và có thể đẩy giá lên.
Nhưng làm vậy thì khách quen thấy bị đối xử khác, và họ nhớ.
Giữ giá nhất quán qua các mùa thì khách yên tâm và quay lại đều.
Nếu thật sự thiếu hàng thì cách hợp lý là ưu tiên khách quen và hẹn người mới sang đợt sau, thay vì nâng giá.
Ở Đầu Tư Ong Dú, giá được giữ ổn định qua các mùa, và điều đó được khách đánh giá cao.
Ngoài nhịp trong năm còn có biến động giữa các năm.
Năm nguồn hoa kém thì sản lượng thấp, cả tổ lẫn mật đều khan, và giá nhích lên.
Năm được mùa thì ngược lại.
Ở Việt Nam thì nhiều người vào nghề với kỳ vọng sai nên bỏ cuộc sau một hai năm, nên biến động này khá rõ.
Người mua quen mua nhiều năm sẽ thấy điều đó. Người bán nên giải thích thay vì để khách tự đoán.
Đầu tháng 5 đến tháng 11, và nên đặt trước.
Ngay sau đợt thu chính, khi nhiều hàng và mật mới nhất.
Rủi ro cao. Chỉ nên khi chọn tổ đã ổn định lâu năm và chuẩn bị kỹ.
Chắc suất, nhận tổ đúng thời điểm, và người bán cũng sắp xếp được.
Do nguồn hoa và thời tiết mỗi năm mỗi khác.
Cùng gọi là một tổ mà mỗi nơi lại một giá khác nhau. Các yếu tố tạo ra chênh lệch và cách nhìn cho đúng khi đem chúng ra so.
Không phải cứ rẻ là dở, nhưng rẻ bất thường thì luôn có lý do nào đó. Cách phân biệt hai trường hợp trước khi quyết mua.
Đặt giá quá thấp thì mình thiệt, quá cao thì không ai mua. Cách tính dựa trên chi phí thật và giá trị mà mình mang lại cho khách.
Chai nhỏ chai lớn, đợt thu khác nhau, vùng nuôi khác nhau. Bốn điểm cần phải giống nhau trước khi đem hai mức giá ra so.
Trả giá là chuyện bình thường nhưng có cách làm hợp lý và cách làm mất thiện cảm. Nhìn từ cả phía người mua lẫn người bán.
Cùng một tổ ong nhưng mua ở hai nơi lại nhận được hai thứ khác nhau. Những giá trị đi kèm mà người mua thường hay bỏ qua khi so giá.
Tính toán khi nuôi ong dú ở quy mô có đầu tư: chi phí ban đầu, thời gian đàn ổn định, các rủi ro thật, cách tính toán thận trọng. Không hứa hẹn lợi nhuận, chỉ nêu biến số cần cân nhắc.